QÚA TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN 504
Công ty cổ phần 504 là một doanh nghiệp nhà nước hình thành sau khi đất nước thống nhất. Trong thời kỳ đất nước phát triển với nhiều biến động, tất cả đang phải mò mẫm tìm mô hình thích hợp, bởi vậy đã có nhiều lần nhập, tách ở cơ sở (Xí nghiệp, Công ty) và cấp trên (Khu liên hiệp, Tổng Công ty). Nhưng dù sao Công ty ta đều lấy cụm Công nghiệp Vạn Mỹ làm cơ sở chính trong mọi giai đoạn phát triển và người viết cũng dựa trên những tư liệu lưu trữ và tham khảo ý kiến của những người làm việc đương thời xin tạm chia theo các giai đoạn sau: Giai đoạn từ 05/1975 đến 03/1983: chủ yếu là khôi phục. Giai đoạn từ 03/1983 đến cuối 1992: Vừa kinh doanh vừa quản lý. Giai đoạn từ 1993 về sau: Chủ yếu kinh doanh.
Khu vực ga Vạn Mỹ thuộc thôn Phú Mỹ, xã Phước Lộc, huyện Tuy Phước, trước đây xung quanh rừng cây cối rậm rạp dưới chân dãy núi Sơn Triều, nước độc, người thưa, có cả trại tù dưới thời Pháp thuộc.
Phía Bắc Nam 1km là QLI9, phía Đông là QLIA chạy thẳng chợ Dinh rồi mới quanh lên Phú Tài. Đến khoảng năm 1965-1966 đoạn cầu Gành Phú Tài mới được nâng cấp (do hãng Breneo Mỹ làm). Sau hãng RMK-BRJ đến mở mỏ đá, trạm trộn BTN với quy mô khá lớn để xây dựng sân bay Phù Cát, cảng Quy Nhơn, QLI9, QLIA và các công trình quân sự khác ban đầu với cái tên (Bình Định-Quanry) do Mike Brown làm giám đốc.
Đến năm 1972 cơ bản các công trình hoàn thành, nhưng QLI từ Bồng Sơn trở ra mới rải 1 lớp BTN. Mỹ rút đã giao lại toàn bộ cơ sở này cho Hòa Xã – Sài Gòn quản lý. Hòa Xã đưa kỹ sư Lê Đình Hân nguyên hạt trưởng Hòa Xã Quy Nhơn lên làm Giám đốc và đổi tên mới ”Hầm đá Vạn Mỹ”. Trong thời gian quản lý Hòa Xã đã cho di chuyển nhiều thiết bị đi Nha Trang, xi măng Hà Tiên. Ngày 30/3/1975 Quy Nhơn giải phóng, chỉ huy bỏ chạy, số anh em ở cơ sở cách mạng của công đoàn giải phóng Bình Định đã đứng lên trị quản. Do ông Nguyễn Huệ là công nhân gác gian phụ trách cùng 15 anh em khác (Châu Yếm, Nguyễn Đạt, Bùi Bánh, Nguyễn Phương, Tô Cần, Nguyễn Sư, Nguyễn Lương, Đăng Quang Liểu, Nguyễn Hồng Sơn, Nguyễn Sương, Nguyễn Mùi, Mai Đông, Đặng Thùy, Võ Điệm, Võ Đại, Nguyễn Văn Chín) đã quản lý, bảo vệ và giao lại cho chính quyền mới. Ngày 02/5/1975 đ/c Nguyễn Trung Tín, Bí thư nguyên Chủ tịch tỉnh Bình Định đã đến thăm và khen ngợi.
Ngày 05/5/1975 đ/c Dũng Tiến và đ/c Châu LHCĐ giải phóng đã đến thăm công nhân cơ sở của mình và chỉ đạo thành lập công đoàn ”Hầm đá Vạn Mỹ” gồm: ông Nguyễn Huệ là thư ký, ông Nguyễn Đạt và Thái Bình Minh ủy viên.
Ngay trong giải phóng Công ty giao thông Bình Định đưa một số cán bộ Miền Bắc về và đội tuyển ở chiến khu về làm nòng cốt khôi phục sản xuất, Công ty tạm chỉ định:
– Đ/c Lê Châu, Bí thư chi bộ.
– Đ/c Võ Định phụ trách chính quyền và sau đó chủ nhiệm Công ty.
– Đ/c Nguyễn Văn Khai.
Với bộ máy ban đầu hết sức đơn giản.
– Đ/c Lâm Duy Quế phụ trách Hành chính.
– Đ/c Phạm Xuân Ninh phụ trách Tổ chức tiền lương.
– Đ/c Nguyễn Đình Thuộc phụ trách Vật tư xe máy.
– Kỹ sư Trịnh Trọng Biên phụ trách Kỹ thuật.
– Ông Quang Cẩm Huy phụ trách Xưởng sửa chữa (lưu dụng).
– Ông Trần Văn Sương, ông Nguyễn Ngọc Thế, Đội sản xuất đá.
– Ông Nguyễn Văn Quí, thủ kho tổng hợp (lưu dụng).
Công ty bắt tay kiểm tra khôi phục máy đá và xe máy. Đồng thời một bộ phận đi thu gom xe máy của Công ty chạy rải rác các nơi đã thu về 1 xe Pick-up, xe đầu kéo White…Và hàng nghìn vì keo sắt, hơn 60 tấn nhựa đường AP3 và hàng chục thanh nhôm ống bắt cầu vượt…
Lúc này Khu đường bộ số 5 cấp kinh phí khôi phục sửa chữa và Công ty giao thông vận tải Bình Định cho kinh phí mua máy rải bê tông nhựa cedaprapiE (máy của Mỹ nay đang còn)
Ngày 20/8/1975 – UBND Tỉnh Bình Định thành lập ”Xí nghiệp đá bê tông nhựa Vạn Mỹ” thay tên ”Hầm đá Vạn Mỹ” cũ.
Tháng 10/1975 Công ty GTVT Bình Định cử đ/c Nguyễn Văn Bổng lên làm Giám đốc Xí nghiệp, nhưng vừa làm việc ở Công ty vì chưa bàn giao xong.
Với không khí hồ hởi phấn khởi của những ngày đầu sau giải phóng, anh chị em trong Công ty đã hết sức cố gắng trong khôi phục hệ thống sản xuất, kể cả những máy móc phục vụ như ép hơi, khoan đá, xúc NorthwesL, ủi D8, xe Mack… đến cuối năm 1975 đã sản xuất thử được 15.000 m3.
Được kêt quả trên là nhờ sử dụng tốt những thợ cũ đã làm việc ở đây, có tay nghề khá cao, có những anh chị em biết sử dụng nhiều loại máy như anh Nguyễn Hựu có thể lái máy xúc, máy san, máy ũi, lái xe, lái cẩu đều giỏi. Hoặc anh Nguyễn Chơi có thể lái xúc, lái ủi, lái xe nâng hàng, chạy máy sản xuất đá với tinh thần bình tỉnh gan lì hiếm có.
Đến tháng 4/1976 Bộ GTVT Quyết định chuyển giao: ”Xí nghiệp đá bê tông nhựa Vạn Mỹ” cho XNLHCT – 4 ở Sài Gòn quản lý theo hệ VECCO cũ được đặt tên mới là ”Công ty công trình 4-4”.
Lúc này được giao nhiệm vụ cụ thể ”Sản xuất đá các loại để cung cấp cho khôi phục đường sắt thống nhất và bộ phận khác trực tiếp tham gia khôi phục đường sắt”.
Thời gian này không khí sản xuất thật sôi nổi hào hứng, sản xuất đá thường đến 10 giờ đêm, chị em cấp dưỡng nấu cháo đưa lên tận máy. Lúc này tất cả các bãi đều chứa đá, chỉ còn đủ lối đi cho hai xe tránh nhau. Chỉ 02 năm 1976 và 1977, Công ty đã cung cấp cho đường sắt thống nhất hơn 170.00 m3 đá các loại mà các Công ty Trường Sơn, EJJELL, 471, Vinamico…đến nhận đã thanh toán trực tiếp với LHXNCT-4 vì Công ty công trình 4-4 lúc bây giờ chỉ hạch toán báo sổ.
Những tháng cuối năm 1976 bắt tay khôi phục trạm trộn chắp và lực lượng đã biết làm cũ kết hợp hướng dẫn đội thi công mặt đường bê tông nhựa trước Tết âm lịch năm 1977 đã rải BTN ở quanh chợ, vườn hoa, bến xe Quy Nhơn được 38.000m2, đã gây ảnh hưởng tốt đối với thành phố mới giải phóng. Để đảm bảo kịp cho khôi phục đường sắt thống nhất giảm vận chuyển xa, Công ty mở thêm mỏ đá Bình Đê và đặt chỉ huy ở phía Bắc để chỉ đạo các đơn vị sửa chữa cầu cống, kè taluy đường sắt cho đến thị xã Quảng Ngãi do anh Lê Châu phụ trách. Công ty cũng vinh dự cử đồng chí Trần Trực đi cùng đoàn XNLHCT-4 tham gia đoàn trên chuyến tàu thông xe đường sắt thống nhất đầu tiên và sau đó Thủ tướng Chính phủ cấp bằng khen cho Công ty về thành tích tham gia khôi phục đường sắt thống nhất.
Trong giai đoạn này, ngoài tham gia khôi phục đường sắt thống nhất, Công ty đã tham gia sửa cầu đường ở QLIA, QLI9, địa phương, đựơc 17cầu trung, nhỏ và hàng chục cống Amacô bị sập, thảm bê tông nhựa 185.110 m2 tương đương với 26,5 km nhựa của QLIA.
Tham gia xây dựng các công trình thủy lợi nhỏ ở Phù Cát, Phù Mỹ, Hoài Ân, Tây Sơn…
Sản xuất đá trên 339.000 m3 đá các loại để cung cấp cho địa phương và công trình giao thông.
Tháng 5/1978 CTCT4-4 được chuyển vào khu đường bộ 5 và được đổi tên mới “CTCT16” và đề bạt đồng chí Hoàng Long, Phó Chủ nhiệm. Khoảng giữa năm 1979 Cục điều đồng chí Ngô Qui về làm chủ nhiệm Công ty thay đồng chí Võ Định đi học lớp chính trị Nguyễn Ái Quốc 7.
Thời gian này Công ty vẫn tiếp tục khôi phục thiết bị xây dựng các đập thủy lợi nhỏ ở Cát Hanh, Cát Tài, Phù Cát, Hoài Nhơn. Tiếp tục xây dựng lại các cầu nhỏ Tân Diêm, Nga Mân, Đại Thạnh, Hòa Dõng, Suối Lỡ…
Đặc biệt phát triển thêm cấu kiện bê tông đúc sàn: tham gia đúc hàng trăm mét cọc cầu 35×35 hay 40×40 trong đó toàn bộ bản mặt cầu Châu Thành (Gò Găng) cho Công ty cầu 13 đạt hiệu quả tốt.
Cuối năm 1980 đồng chí Định đi học về thường trực Đảng ủy Công ty. Từ cuối năm 1980 khu đã có ý định hợp nhất 02 Công ty đường 14 và Công ty công trình 16. Nhưng đến tháng 5/1981 mới có quyết định chính thức đặt tên mới ”Công ty đại tu cầu đường 504” (Công ty đường 14 có phụ lục riêng) trụ sở đặt tại Vạn Mỹ và quân số lúc này là 530.
Bộ máy được Khu đường bộ 5 sắp xếp (giữa 2 CBCN 2 đơn vị cũ)
– Đ/c : Ngô Qui ( CT 16 ) Chủ nhiệm
– Đ/c : Phan Thế Huệ ( CT 14 ) Phó chủ nhiệm
– Đ/c : Hoàng Long ( CT 16 ) ”
– Đ/c : Nguyễn Văn Gao ( CT 14 ) ”
– Đ/c : Nguyễn Văn Tài ( CT 14 ) Bí thư Đảng ủy
– Đ/c : Trần Khắc Thưởng ( CT 16 ) Thư Ký CĐ
– Đ/c : Nguyễn Minh Trí ( CT 14 ) BT đoàn TN.
Hợp nhất 2 ban chấp hành Đảnh ủy gồm 10 đồng chí bắt tay lãnh đạo đơn vị mới, tiếp tục thực hiện nhiệm vụ mà Khu đã giao cho cả 02 đơn vị 14 và 16 trong năm 1981. Tạm thời giữ 09 đội của 02 đơn vị cũ đang nằm ở các địa bàn đang thực hiện nhiệm vụ dở dang, như ở cầu Ialan, đường Kumtom-comohong, cầu Vạt, km8 đường Thạch Trụ – Batơ. Đến cuối năm 1981 đồng chí Ngô Qui nghỉ hưu, đồng chí Nguyễn Văn Tài thay chủ nhiệm và đồng chí Phan Thế Huệ – Bí thư Đảng ủy.
Giữa năm 1982 đồng chí Tài vào làm Đoạn trưởng Phú Khánh và đồng chí Võ Định thay chủ nhiệm Công ty. Ngày 11/9/1981 do áp thấp nhiệt đới gây sụt lỡ 1 loạt đèo dốc QLIA từ đèo Cù Mông đến đèo Cả. Riêng đèo Cù Mông có khối lượng sụt lở lớn hơn 160.000 m3, làm tắc đường ảnh hưởng lớn tuyến giao thông Bắc Nam.
Khu đường bộ 5 khẩn cấp họp cùng các tỉnh bàn biện pháp khắc phục, xin ý kiến họp quyết định cho đi vòng lên Tây Nguyên xa thêm 300 km nữa.
Riêng đèo Cù Mông giao cho Công ty 504 là lực lượng chính, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình định huy động thêm đại đội công binh, với sử dụng xe máy tốt nhất tìm mọi biện pháp để thông xe sớm nhất. Khu đã đồng ý phương pháp nổ mìn tung để hốt đất đá ra ngoài nhanh nhất.
Đảng ủy Giám đốc Công ty họp khẩn cấp Quyết định phương án đồng chí Tài, đồng chí Huệ cùng lên hiện trường và cử đồng chí Kiệt, Xuân, Định cùng đội công trình 4 của đồng chí Thưởng, máy ủi, máy san của đội 46 lên đường ngay đêm hôm sau. Với không khí một chiến dịch, sau 13 ngày đêm chiến đấu liên tục với gió rét, bùn nhào, với những khối đá lớn đến 70 m3, phải gặm dần từng lớp. Đến 10 giờ ngày 24/9/1981 được cho thông xe gián đoạn ngày thông xe này long trọng làm sao, bởi có đủ mặt chủ tịch Tỉnh, Giám đốc khu đường bộ 5, Bộ GTVT, Ngân hàng, Báo chí, Truyền hình…về giải tỏa được ách tắc giao thông tuyến Bắc Nam. Nhưng sau đó tiếp tục thi công ròng rã 03 tháng mới hoàn thành, công trình nay đã dùng 127 tấn thuốc nổ. Giai đoạn này chỉ hơn 7 năm, một thời gian không dài, lại thay đổi nhiều lần về tổ chức và người phụ trách, nhưng Công ty dã phát triển vươn lên kịp với các đơn vị bạn trong Khu, thể hiện tập thể Công ty có rất nhiều cố gắng thực hiện tốt chính sách hòa hợp dân tộc của Đảng, động viên được khả năng tiềm tàng trong mỗi con người, khơi dậy trong họ tình yêu quê hương đất nước giai đoạn nhiệt tình hăng hái để hoàn thành nhiệm vụ khôi phục này, nhằm thực hiện tốt những nhiệm vụ lớn hơn của cấp trên giao cho Công ty góp phần giữ vững mạch máu giao thông của đất nước. Nhưng cũng nhiều vấp váp, nóng vội chưa sâu, gây thiệt hại như sáng kiến mở rộng hàm nhai cối chuông lớn để xay được đá 5-10 cm mong năng suất cao hơn. Thực tế làm hỏng gai hết cối chuông, làm cối chuông không sử dụng được thiệt hại hàng chục triệu đồng.
Tháng 7/1977 nhân có đoàn Mỏ đá Chu Lai đến học quy trình khoan nổ bắn mìn do quản lý chưa tốt để gây cháy văn phòng, mất mát nhiều tài liệu của Mỹ để lại.
Giai đoạn này không chỉ làm được việc khôi phục thiết bị mà còn tập hợp đào tạo thợ lành nghề đủ để sử dụng cho cả 2 dây chuyền sản xuất đá, bê tông nhựa lúc bấy giờ có hiệu quả đảm bảo thực hiện nhiệm vụ chính trị trên giao nên đã được.
– Chính phủ tặng Bằng khen cho CTCT4-4 về khôi phục đường sắt thống nhất (1978)
– Chính phủ tặng HC lao động hạng 3 cho Công ty Đại tu cầu đường 504 năm 1982.
Bảng thống kê tóm tắt sản xuất và đời sống
|
Năm |
Kế hoạch(đồng) |
Thực hiện(đồng) |
Tỷ lệ % |
Thu nhập BQ đ/t |
|
1976 |
|
|
102.6 |
|
|
1977 |
1.897.468 |
2.121.534 |
112.0 |
|
|
1978 |
1.929.000 |
2.077.000 |
107.0 |
|
|
1979 |
|
|
109.0 |
|
|
1980 |
1.410.000 |
1.496.000 |
106.0 |
|
|
1981 |
2.330.000 |
2.381.000 |
102.0 |
|
|
1982 |
11.620.000 |
12.631.000 |
117.0 |
|
Theo Quyết định 16 và 17/QĐ-TC ngày 03/11/1982 của Bộ GTVT hợp nhất khu đường bộ 5 và XNLHCT3 thành LH các XNGT5 đóng trụ sở ở 16-Lý Tự Trọng TP Đà Nẵng.
Quyết định số 628/TC-CB ngày 14/4/1983 của LH các XNGT5 về việc sắp xếp các Xí nghiệp thành phần trong liên hội. Trong đó: hợp nhất Đoạn QL Nghĩa Bình và Công ty cầu đường 504 thành ”Xí nghiệp xây dựng và quản lý đường bộ 504” trụ sở đóng tại Vạn Mỹ. Sau đó đổi thành “Xí nghiệp đường bộ 504” và quy định ban lãnh đạo Xí nghiệp mới:
– Đ/c : Võ Định : Giám đốc
– Đ/c : Nguyễn Duy Mỹ : Phó giám đốc
– Đ/c : Hoàng Long : Phó giám đốc
– Đ/c : Nguyễn Văn Gạo : Phó giám đốc
– Đ/c : Phan Thế Huệ : Bí thư Đảng ủy
– Đ/c : Phạm Đổng : Thư ký Công đoàn
– Đ/C : Hoàng Ngọc Lương : Bí thư Đoàn TN
Ban chấp hành Đảng ủy hợp nhất gồm 16 đồng chí đã họp phiên đầu vào ngày 10/5/1983 bàn biện pháp ổn định tổ chức, thực hiện kiểm kê bàn giao sớm để bắt tay thực hiện kế hoạch sản xuất trên giao.
Tổng quân số lúc này dến 675 người, với 08 phòng ban, 10 đội sản xuất, trong đó các hạt cũ đổi thành đội như:
– Hạt 1 thị xã Quảng Ngãi thành đội 40.
– Hạt 2 Đức Phổ – Quảng Ngãi thành đội 41.
– Hạt 3 Hoài Nhơn – Bình Định thành đội 42.
– Hạt 4,5 Phù Cát và Phú Tài – Bình Định thành đội 44.
– Hạt 6 Bình Nghi, Tây Sơn – Bình Định thành đội 48.
Riêng hạt 7-Batơ chuyển giao cho Tỉnh quản lý, ngoài ra các đội sản xuất đá (đội 46), Đội đường 1 (đội 45) , đội xe máy sữa chữa (đội 47), đội công trình (đội 43).
Từ đây nhiệm vụ của Xí nghiệp không chỉ làm nhiệm vụ sản xuất đá, trung đại tu, XDCB cầu đường bộ mà còn quản lý 273 km đường QLIA và QLI9 với tình hình đường sá lúc bây giờ còn nhiều khó khăn, như từ Dốc Sỏi (km1027) đến Bồng Sơn (KM1155) bê tông nhựa mới trải 1 lớp nên hư hỏng liên tục, có đến 35 cầu tạm/1287m. (Trong đó 18 cầu gỗ, 17 cầu bên lây). Có đèo An Khê, đèo Cù Mông quanh co nguy hiểm thường xảy ra tai nạn. Sau hợp nhất lực lượng có đông thêm, thiết bị có nhiều hơn nhưng hầu hết già cỗi, năng suất thấp. Lãnh đạo chủ trương đưa tất cả các anh chị em có con nhỏ về các đội quản lý đường, để các cháu có điều kiện học hành, các đội lưu động chỉ có lực lượng trẻ, độc thân. Tiếp theo đưa các phòng ban từ 08 phòng xuống còn 06 phòng và đầu tư sửa chữa đại tu các thiết bị quá xấu để đảm bảo ổn định năng suất.
Tinh thần làm việc Xí nghiệp đang có sinh khí mới, ngay công trình cầu Hòa Dõng 1 đổ bê tông trong dịp tết 1984 được Tổng Giám đốc biểu dương.
Song song với phong trào thi đua trên công trường là phong trào giữ đường tốt, trong đó phong trào quản lý đường 3 nhất (thông suốt, êm thuận và an toàn) mà đội 42 (hạt Hoài Nhơn) mấy năm liên tục giữ đoạn đường 3 nhất.
Trong phong trào lao động sản xuất sôi nổi đó đã nổi lên hàng trăm sáng kiến lớn nhỏ của công nhân, cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý làm lợi cho Công ty hàng chục triệu đồng, giải quyết được khó khăn thiếu phụ tùng, thiếu vốn, đẩy nhanh tiến độ, để đảm bảo kế hoạch trên giao như:
– Độ chế thay thùng gàu, răng gàu xúc NonthwesL.
– Xử lý lớp bảo ôn, bồn hầm nhựa, vì đã dùng lâu ngày lớp xốp thủy tinh hỏng.
– Nghiên cứu cải tạo hệ thống điện cao thế, đưa bình biến áp 100KWA vào theo yêu cầu phát triển.
– Nghiên cứu đưa mô tơ 200CV thay máy nổ D353 máy đá I.
– Độ chế lại hệ thống màng ben gàu xúc 988-966, cải tạo hệ tăng xích ũi D8.
– Rèn dập độ lại ổ bi hàm 1 chiều, thay hộp số của máy cẩu PH.
– Tập hợp rất nhiều sáng tạo khác nhau để khắc phục, phục hồi luôn 8 xe IFA, giải quyêt khó khăn thiếu xe, thiếu tiền lúc bấy giờ.
– Giai đoạn này Công ty đã hóa giá nhà ở các khu vực trại ngỗng 720m2, ở Tây Sơn 172m2, ở Phù Cát 442m2, ở Hoài Nhơn 1254m2 để anh chị em ổn định cuộc sống, tự tu bổ sửa chữa ngôi nhà riêng của mình.
Trong giai đoạn này nhờ động viên phát huy được truyền thống các đơn vị cũ trước đây:
Đoạn quản lý quốc lộ Nghĩa Bình là đơn vị quản lý đường tốt của khu đường bộ 5, có những phong trào đường 3 nhất với những động tác láng nhựa giữa giờ nắng nhất, nóng nhất để đảm bảo chất lượng láng tốt nhất … nên đã được thưởng cờ luân lưu của Chính Phủ và huân chương lao động hạng ba (1980)
Công ty đường 14 (sau nhập CTĐT đường bộ 5). Sau khi khôi phục đường sắt thống nhất và hoàn thành nhiệm vụ đảm bảo giao thông ở mặt trận Tây Nam về được khu giao với nhiệm vụ rất rộng: Khôi phục đoạn đường Kum Tom – Kom Long, sửa chữa đi một đoạn dài từ Dốc Sỏi, Quảng Nam – Đà Nẵng đến Đèo Cả – Cỗ Mã Phú Khánh tham gia mở đường vào thủy điện Mỹ Sơn.
Có thể nêu ra những nét nổi bật đặc trưng cho người thợ cầu đường 504 lúc bây giờ.
– Chỉ có đội 43 chưa đầy 45 người đội trưởng Văn Minh Thiều (sau đó Trần Dũng Kiệt) khoảng 04 năm đã làm 19 cầu nhỏ và cầu trung ở QLIA và QLI9 (Bà Trà, Dắt Giây, Gạch, Lò Bó, Tú Sơn, Gò Me, Vạn An, Mỹ Hóa, Khánh Phước 3 Liêm trực, Hoà Dõng, Cẩm Tiên, Bình Dương, Hang Dơi…) trong tay chỉ có búa đóng cọc 1tấn 8 và thiết bị rất thô sơ.
– Xây dựng mới hàng chục cống, kè chống sụt taluy đường mà đội đường 45 do đội trưởng Nguyễn Quảng Ngãi vừa tự SX đá, vừa tự xây kè, điển hình là kè Xuân Cảnh chống xâm thực của sóng biển dài hơn 3km trên đoạn Xuân Cảnh- Tuyêt Diêm thuộc tỉnh Phú Yên. Sau đó tiếp tục tham gia mở 4km đường núi vào Thủy điện Vĩnh Sơn, khó nhất vào cua bóng đèn, gần vực Bà sường núi dốc đường cheo leo, đã bàn giao công trình đúng thời hạn.
– Tại mỏ đá Vạn Mỹ, có thể nói là trung tâm công nhiệp của Công ty mà đội 46 đảm nhiệm, kế tục các đồng chí trước mà đội trưởng Phạm Xuân Ninh, Nguyễn Ngọc Thể đã vận động tập thể khắc phục khó khăn, phát huy truyền thống của đơn vị, giải quyết nhiều bức xúc do máy móc quá cũ trong giai đoạn này đã SX cung cấp hơn 7000m3 đá và SX hơn 130 ngàn tấn bê tông nhựa cho các công trình cầu đường, sân bãi Công ty thi công.
– Đội xe xưởng sửa chữa 47, mà đội trưởng Nguyễn Hồng Chơi, Phạm Văn Hóa vận động trí tuệ và kinh nghiệm của anh em trong đội, có thể nói khu vực có nhiều sáng kiến nhất của Công ty. Ngay từ những ngày đầu rất khó khăn đã tham gia phục hồi hơn 40 thiết bị cho Công ty, chủ động xây dựng xưởng sửa chữa mới để làm trạm bảo dưỡng 250 xe/năm của Liên Xô viện trợ, giai đoạn này còn đảm bảo vận chuyển vật liệu, thiết bị thi công cho Công ty hàng chục triệu tấn km.
Ngoài ra còn là lực lượng xung kích bắt cầu Belây trong các đợt lũ lụt đột xuất: Đức Phổ Quảng Ngãi, Đồng Xuân, Tuy An ( Phú Yên), An Khê ( Gia Lai).
– Các đội quản lý 40, 41, 42 với các đội trưởng Lâm Xuân Lộc, Nguyễn Quyết Chiến, Nguyễn Thanh Long quản lý đoạn đường từ Dốc Sỏi – Đức Phổ – Nam Bồng Sơn mới thảm một lớp. Tình trạng hư hỏng sình lún ổ gà, ổ voi luôn đe dọa, các anh đã tổ chức lực lượng bám cầu, bám đường luôn đảm bảo thông suốt, êm thuận. Trong đó đội 42 trong nhiều năm giữ đường 3 tôt.
– Các đội 44, 48 quản lý các đoạn QLIA và QLI9 có đèo Cù Mông, đèo An Khê quanh co, dốc cao nguy hiểm, thường xảy ra tai nạn. Các đội trưởng Nguyễn Thanh Huỳnh, Nguyễn Văn Sanh, Nguyễn Văn Hưu (sau Nguyễn Minh Đệ) đã rất vất vả, nhiệt tình trong công việc, trong bố trí cung trạm, tổ chức lực lượng tuần tra, nhanh chóng thông báo tai nạn giao thông, nhanh chóng lập lại trật tự giao thông khu vực, tổ chức hàn gắn lại tường hộ lan đổ vỡ, nhất là khắc phuc sụt lỡ sau các trận mưa bảo lũ để đảm bảo an toàn trên các đoạn đèo nguy hiểm.
Trong năm 1985 đồng chí Nguyễn Văn Hùng được đề bạt Phó giám đốc quả là một thời kỳ sôi động ở Xí nghiệp đường bộ 504 mà nhạc sĩ Văn Chừng- Tuấn Kiệt đã sáng tác kỷ niệm cho Công ty 504 các bài truyền thống:XNĐB 504, khai thác đá, tô kích kéo, kè xuân cảnh, cầu đường tình yêu mùa xuân. Các bài hát đã ca ngợi nét đẹp trong lao động, tình yêu của người thợ cầu, thợ đường, thợ đá…thể hiện lên trên từng mét cầu, mét đường mà họ muốn làm đẹp thêm quê hương đất nước. Bây giờ nghe lại ai cũng lâng lâng tự hào về sự đóng góp công sức mình đối với Công ty qua một thời trai trẻ.
Thành quả lao động XNĐB 504 giai đoạn này tuy không lớn lắm nhưng chúng ta rất trân trọng.
Ngoài 19 cầu đã xây dựng mới, làm hơn 50 cống mới, 80km láng mặt, 506 ngàn mét vuông thảm bê tông nhựa, hàng ngàn mét kè taluy chống sụt lỡ, gần 30 km xử lý móng đường bị hủy diệt.
Còn sản xuất công nghiệp đã sản xuất 270.000 m3 đá các loại, gần 50m3 cầu kiện bê tông đúc sẵn (cọc, bản).
Đặc biệt làm thí điểm cho khu đường bộ 5, hai đường lánh nạn ở đèo Cù Mông. Lấy con số thống kê từ tháng 4/1976 đến tháng 02/1991 ở đèo Cù Mông đã xảy ra 32 vụ tai nạn, làm chết 160 người, bị thương 354 người, hỏng 28 xe, hư hại 34 tấn hàng hóa, thật là khủng khiếp.
Khi thi công 2 đường lánh nạn chưa hoàn chỉnh đã có 1 xe đức phanh chạy vào.
Bà con đứng trên xe vui mừng khôn xiết, đã tránh được một tai nạn có thể xảy ra, nếu không có đường lánh nạn này.
Giữa năm 1989 Tổng Giám đốc LH 5 yêu cầu đồng chí Võ Định tham gia đoàn đi hợp tác lao động Irắc. Cử đồng chí Hoàng Long thay Giám đốc XNĐB 504 (sau đó đồng chí Định cũng không đi).
Cùng thời gian đó khu đường bộ 5 quyết định tách thêm XNĐB 509 (từ XNĐB 504) để quản lý đoạn QLIA thuộc tỉnh Quảng Ngãi do đồng chí Nguyễn Duy Mỹ làm Giám đốc.
LÃNG ĐẠO XNĐB 504 ĐƯỢC KHU SẮP XẾP:
– Đ/c : Hoàng Long Giám đốc
– Đ/c : Nguyễn Văn Hùng Phó giám đốc
– Đ/c : Huỳnh Nghĩa Phó giám đốc (đề bạt sau)
– Đ/c : Võ Định Bí thư Đảng ủy
– Đ/c : Nguyễn Minh Đệ Chủ tịch công đoàn
– Đ/c : Hoàng Ngọc Lương Bí thư đoàn TN
– Các đội phòng ban vẫn giữ như cũ .
Đến năm 1990 LH các NXGT5 đổi tên lại thành ”Khu đường bộ 5” và Công ty thành ”Công ty quản lý đường bộ 504”, các đội quản lý trước đây đổi thành hạt đường bộ.
Thời gian này tiếp tục tăng cường đầu tư chiều sâu, mua thêm 3 xe Kamaz, 2 lu sắt, 1 lu rung, dụng cụ thí nghiệm gần 238 triệu đồng. Từ năm 1989 Nhà nước ra NĐ 217, nhiều tổ chức kinh doanh được đập bung ra, mở rộng diện hoạt động và quyền tự chủ trong kinh doanh XN 504. Cũng trong hoàn cảnh đó, được nhiều thuận lợi, không hoàn toàn phụ thuộc vào kế hoạch cấp trên. Đã mạnh dạn đầu tư chiều sâu để bổ sung thay thế thiết bị cũ. Về tổ chức cũng thích ứng hơn, gọn nhẹ hơn để đảm nhiệm những công trình ở xa, năm 1990 mới tổ chức đội công trình 1. Đến năm 1992 tổ chức thêm đội công trình 2.
Trong thực hiện NĐ 217 vì quá mới, nhận thức chưa sâu, chưa có kinh nghiệm, nên trong nhiều việc làm được cũng có việc yếu, trong đó cũng làm mất đi 1 số thiết bị có khả năng phục hồi được trong lúc thiếu kinh phí mua.
Khoảng giữa năm 1992 lại được đổi tên từ ”XN quảng lý đường bộ 504” thành ”Phân khu quản lý đường bộ Bình Định” vì từ năm 1989 trở đi trên phạm vi mỗi tỉnh của Khu 5 có đến 1-2 đơn vị đứng chân của Khu quản lý đường bộ 5, vào tháng 11/1992, khu điều động đ/c Hoàng Giang – Phó giám đốc phân khu đường bộ Phú Yên (XN 502) về Phó giám đốc phân khu quản lý đường bộ Bình Định (XN 504).
Trong giai đoạn vừa quản lý cầu đường, vừa sản xuất kinh doanh này mặc dù có nhiều biến đổi về tổ chức và nhiệm vụ, nhưng đơn vị ta cũng tiếp tục phát triển tốt nên:
Nhà nước đã tặng thưởng HC lao động hạng 3 cho XN ĐN 504
Nhà nước xét thưởng cờ luân lưu đơn vị dẫn đầu thi đua 1991 và công đoàn cơ sở vững mạnh 1991 của Tổng Công đoàn VN.
Đến năm 1992 được thưởng HC lao động hạnh 2 cho XNĐB 504, tổng hợp 5 năm 1987-1992.
Công đoàn nghành tặng cở đơn vị đời sống khá nhất 1988 và 1989.
BẢN THỐNG KÊ TÓM TẮC SX VÀ ĐỜI SỐNG TỨ 1983-1992
NĂM |
G.T.S.L.K.H |
K.Q.T.H.Đồng |
TỶ LỆ % |
T.N.B.Q.Đ.N.T |
|
1983 |
18.695.00 |
19.195.000 |
102,7 |
404 |
|
1984 |
17.020.000 |
18.080.000 |
106,2 |
611 |
|
1985 |
25.400.000 |
26.777.000 |
105,5 |
765 |
|
1986 |
30.066.000 |
38.488.000 |
128,0 |
950 |
|
1987 |
119.760.000 |
120.470.000 |
100,2 |
5.560 |
|
1989 |
1.085.000.000 |
1.088.920.000 |
100,4 |
52.536 |
|
1989 |
4.216.420.000 |
4.382.430.000 |
103,9 |
110.000 |
|
1990 |
5.773.200.000 |
5.806.200.000 |
100,7 |
138.000 |
|
1991 |
7.115.000.000 |
7.610.000.000 |
106,9 |
240.000 |
|
1992 |
11.013.000.000 |
13.999.000.000 |
127,0 |
310.000 |
Nhân đây thông báo thêm một số sự kiện là tháng 6/1990 TW quyết định thành lập Hội cựu chiên binh, một đoàn thể cách mạng trong mặt trận tổ quốc VN. Đến tháng 4/1991 Đảng ủy và Giám đốc Công ty tổ chức HCCB ở Công ty. Tuy lúc đầu mới 27 đ/c nhưng hầu hết là các chiến sĩ của các chiến trường ác liệt ở khu 5, trung bắc Lào, chiến trường K ở các thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ, Camphuchia.
Tuy ít nhưng có các chi hội hầu hết ở đội sản xuất và cơ quan góp phần tích cực trong công tác bảo vệ tài sản, bảo vệ an ninh đơn vị, góp phần giáo dục phát huy truyền thống uống nước nhớ nguồn trong xây dựng nhà Tình nghĩa, thăm tặng quà gia đình thương binh liệt sĩ, bà mẹ Việt Nam anh hùng. Năm 1994 được Tỉnh hội cấp bằng khen.
Vào năm 1993 tiếp tục lại có biến động về tổ chức. Bộ GTVT chủ trương tách riêng các đơn vị quản lý và đơn vị kinh doanh.
Ở Bình Định tách ra từ phân khu có:
* Phân khu quốc lộ BĐ quản lý 167 km đường QLIA và QLI9.
– Đ/c Huỳnh Nghĩa : Giám đốc
– Đ/c Nguyễn Quãng Ngải : Phó giám đốc
* Công ty công trình 504 làm nhiệm vụ đại tu do:
– Đ/c Hoàng Long : Giám đốc
– Đ/c Hoàng Giang : Phó giám đốc
– Đ/c Nghuyễn Hữu Phụng : Phó giám đốc ( mới đề bạt )
Các phòng ban và đội vẫn như cũ với quân số khoản 280 người.
Năm 1993 có kế hoạch giao ban đầu 14,26 tỷ nhưng khả năng thanh toán chỉ có 10,3 tỷ trong đó có trả nợ 1992 là 5 tỷ. Như vậy 1993 khu vẫn nợ gần 9 tỷ.
Cuối năm 1993 Bộ GTVT Quyết định công nhận doanh nghiệp theo Nghị định 388 và có quyết định số 900/QĐTCCB-LĐ ngày 13/5/1993 tên mới là Công ty công trình giao thông 504. Tuy khó khăn rất nhiều về vốn nhưng Công ty vẫn phải tăng cường đầu tư chiều sâu, mua thêm máy đá Liên Xô CM-186-187, 01 lu lốp, 02 xe Nam T.Tiên, 01 lu rung Liên Xô, 01xúc bánh lốp 1,2m3 , 01 ép hơi, 02 lu sắt với giá trị hơn 2 tỷ 900 triệu đồng.
Nên đã thực hiện ngoài 17 km thảm nêu trên còn làm mới 9 cống, sản xuất 40.950 m3 đá các loại, đại tu 12 xe máy. Tổng sản lượng đã nâng lên 19.509 tỷ/18.340 tỷ đạt: 106%.
Trong đó kế hoạch chính 13 tỷ 610/13 tỷ 340 : 102%
Tự làm 5,899/5 tỷ : 117 %
Được thu nhập bình quân đầu người 626.000đ/tháng, hoạt động 1993 được Bộ trưởng Bộ GTVT tặng cờ đơn vị thi đua xuất sắc.
Cuối 1993 đ/c Hoàng Long nghỉ hưu, Bộ Quyết định đ/c Hoàng Giang làm Giám đốc Công ty.
Bước vào 1994 vẫn tiếp tục khó khăn về vốn nợ vay ngân hàng của năm 1993 chuyển sang là 11 tỷ và vẫn phải tiếp tục vay để làm năm 1994.
Mặt khác ghi kế hoạch 1994 chủ yếu để trả nợ 1993.
Trước tình hình như vậy, đều bức xúc là công ăn việc làm cho CBCNVC. Khẩu hiệu lúc này ”Mỗi người phải đi tìm việc làm” có Qui chế khen thưởng cho những người tìm được việc.
Lãnh đạo đã mạnh dạn củng cố một bước bộ máy, tổ đội công trình nhỏ gọn.
– Chuyển phòng Kế hoạch thành phòng Kinh doanh giao cho ông Trần Văn Sương và Trịnh Văn Nam phụ trách theo qui chế mới.
– Chuyển phòng Kỹ thuật thi công thành phòng kỹ thuật chất lượng giao cho ông Lã Chí Đức trưởng phòng.
– Thành lập thêm đội công trình 3 –do ông Nguyễn Ngọc Thể đội trưởng.
Đến tháng 9/1994 chuyển ông Trần Văn Sương làm trợ lý Giám đốc kinh doanh và sau đó làm Trưởng chi nhánh đại diện Quảng Ngãi.
– Ông Võ Hoàng Vũ, trưởng phòng Kinh doanh.
– Ông Trần Văn Nhuận về trưởng phòng Tổ chức.
– Ông Nguyễn Ngọc Hữu đội trưởng công trình 4 mới thành lập.
Quá trình làm Công ty tìm mọi cách tháo gỡ khó khăn về vốn: Đảo nợ, vay vốn kết dư của Tỉnh, vay vốn trong CNVC để đủ vốn hoạt động.
Trước tình hình máy móc ngày càng già cỗi, vốn thiếu nhưng nhận thức được vai trò lớn của thiết bị trong sản xuất, phải tích cực đầu tư chiều sâu: Mua thêm máy đá 131A,134A. Đặt gia công hàm dập máy 1, của đơn vị gang thép Thái Nguyên, 1 xúc bánh lốp gàu 3.5 m3, 01 ép hơi, 01 ôtô con, 01 xe đưa đón 20 chỗ ngồi cho tuyến Phù Cát với tổng số tiền 1tỷ 700 triệu đồng.
Nhờ năm 1994 đã thực hiện được một khối lượng đáng kể: 19,7 tỷ
– Sản xuất đá gần 60.000 m3
– Móng và thảm BTN 125.500m2 tương đương với 11,8km
– Móng láng 8,7km
Được Bộ tặng thưởng cờ đơn vị thi đua xuất sắc.
Riêng việc mạnh dạn mở đại diện Công ty 504 tại Quảng Ngãi để đón nhận các công trình ở đó đang phát triển, mà chủ yếu là khu công nghiệp Dung Quất là một việc nhạy bén và hết sức cố gắng trong tình hình hiện tại. Bởi vì khá tốn kém mà chưa có hiệu quả ngay. Phải mua nhà, mua đất mở văn phòng đại diện, lập mỏ đá mới, sẽ dựng trạm trộn BTN mới trong lúc các công trình còn rập rình chưa ký được chính thức.
Có thể nói đây là năm đầu tiên Công ty bước vào ngưỡng cửa tự kinh doanh, tự trang trải, tự tìm việc không dựa vào kế hoạch cấp trên giao và Công ty đã vươn lên trên con đường kinh doanh và cạnh tranh quyết liệt hơn trong cơ chế thị trường vào năm 1995 lại thêm nhiều biến động mới về tổ chức, nhiệm vụ và con người.
Ngay từ đầu Đảng ủy và Giám đốc đã xác định phương hướng, mục tiêu kinh doanh phải đạt được 21-25 tỷ, các biện pháp cơ bản trong năm là:
– Phải vươn xa hơn ra ngoài tỉnh Bình Định, trước mắt lập đại diện ở Quảng Ngãi, tăng cường tìm việc.
– Tăng cường liên doanh với các đơn vị bạn trong khu vực: Công ty thủy lợi 7, Công ty cầu đường của Tỉnh các phân khu.
– Chấn chỉnh lại tổ chức phòng ban, đội về lực lượng gián tiếp và biện phát quản lý, trong đó tăng cường công tác khoán.
– Tăng cường đầu tư chiều sâu: Mở thêm mỏ đá ở Quảng Ngãi, mua thêm trạm trộn lưu động để chiếm lĩnh các công trình xa, sắm thêm một số máy móc thật cần thiết cho nền móng đường, ủi, san, lu rung chân cừu. Đặc biệt củng cố mỏ đá tại Vạn Mỹ.
– Mở tiếp cuộc vận động vay vốn nhàn rỗi trong CB.CNVC để bổ sung nguồn vốn đang khó khăn.
Từ đầu năm Cục quản lý đường bộ VN Quyết định điều động đồng chí Nguyễn Hữu Phụng lên Công ty Tây Nguyên, Công ty đã dề nghị Cục quản lý đường bộ VN đề bạt luôn 02 đ/c Trần Văn Nhuận và Lã Chí Đức Phó giám đốc.
Bộ máy hiện tại:
– Đ/c Hoàng Giang : Giám đốc; Bí thư Đảng ủy
– Đ/c Trần Văn Nhuận : Phó giám đốc
– Đ/c Lã Chí Đức : Phó giám đốc
– Đ/c Phạm Duy Lâu : Bí thư đoàn TN
Tổ chức thêm đội công trình 5 ở mỏ đá Gò Bè đồng chí Ngô Tấn Vinh đội trưởng, Dương Xuân Ly: Bí thư chi bộ. Từ tháng 3/1995 Gò Bè khẩn trương đội CT5 dựng lán trại, bốc tâng phủ, lắp máy xay đá xay được 2000m3 đá để phục vụ thảm. Tháng 6/1995 Công ty đã đưa trạm trộn 12T/giờ về lập ở Gò Bè. Vì máy mới của VN còn nhiều trục trặc, vừa chạy vừa sửa nay đã tạm ổn định và thảm được 3 km từ 1043-km1040 thuộc Quảng Ngãi.
Còn các đơn vị khác cũng hết sức vất vả, đội xay đá 4×6 suốt 4 tháng trời vật lộn với hàm dập số 1, bị hở cốt máy hàm dập phải gia cố hết sức công phu và dùng hàm dập mới của gang thép Thái Nguyên, nay tạm ổn định và đã xay được 25.000m3, cả Công ty khoản 32.000m3, các đơn vị công trình đã thi công một số công trình như:
– Móng thảm nhà máy bột mì An Khê.
– Móng thảm km6-km9,600 QLIA.
– Móng thảm đường Lê Duẫn – Phú Yên.
– Móng láng 0.5 km Bồng Sơn – An Lão.
– Móng láng 1 km đèo Viôlắc Quảng Ngãi.
Thực tế cạnh tranh hiện nay phải chấp nhận những thiệt hại cần thiết để chiếm lĩnh thị trường như đường Lê Duẫn – Phú Yên chấp nhận dự toán vận chuyển bê tông nhựa tại Phú Yên 12 km, ta phải lấy từ Vạn Mỹ – Bình Định 130 km. Phải tổ chức xay đá thay mua để bù lỗ vận chuyển.
Nói chung năm 1993, 1994, 1995 mặc dù vốn vẫn hạn hẹp, nhưng Công ty hết sức cố gắng dành dụm trang trí lại nội thất văn phòng, trang trí thêm máy vi tính, tạo điều kiện cho anh chị em bổ túc nghiệp vụ, học tiếng Anh, sửa sang bộ mặt Công ty trong cơ chế mới.
Điều quan trọng thường xuyên là quan tâm đến đời sống người lao động, dù khó khăn tiền vốn thế nào, hàng tháng đều có ứng lương cho anh em, hết tháng đầu của quí sau trả lương cho quí trước (Không loại trừ tường hợp cá biệt do trục trặc trong tính toán khoán, trong quyết toán vật tư…. Có thể chậm hơn).
Tạm tính 06 tháng đầu năm 1995 thu nhập BQ 636.000đ/người, mặc khác công đoàn và chính quyền Công ty hết sức cố gắng thu xếp mua khu đất Phú Tài thuê lập thiết kế chuẩn cho anh chị em chưa có nhà ở, đến tự lo xây dựng, có sự hỗ trợ của Công ty về nâng nền đất. Được tất cả 42 hộ. Sau này sẽ có sở hữu chủ riêng. Đây là khu tập thể đầu tiên của Công ty theo kiểu nhà nước và nhân dân cùng làm, tạo điều kiện anh chị em ổn định đời sống yên tâm công tác.
Trong những năm đầu 1993, 1994, 1995 của giai đoạn SXKD này đã phát huy đựơc và chủ động sáng tạo từ cơ quan đến đội SX không những khắc phục khó khăn thiếu việc làm mà còn nhiều sáng kiến sáng tạo khắc phục thiếu máy, máy hỏng đảm bảo được tiến độ thi công, có thể đơn cử vài việc.
– Dùng A3-240 của Nga để phục hồi máy xúc cumin của Mỹ.
– Dùng động cơ WTZ phục hồi hai xe 1m thanh lý.
– Nghiên cứu đưa lắp đặt máy 131-134 vào hệ máy đá số 1 của Mỹ.
– Nghiên cứu gia cố phần cốt máy hàm dập NĐI của Mỹ đã vở.
– Tận dụng, độ chế góp nhặt khôi phục lại được 739-740.
– Mạnh dạn đưa máy xay đá theo công trường để giảm giá thành đá ở công trường An Khê, Lê Duẫn – Phú Yên hay ở Viôlắc Quảng Ngãi.
– Mò mẫm độ mạch điện tử hệ thống điều khiển trạm trộn Gò Bè của Việt Nam sản xuất không có hướng dẫn sử dụng.
Tất cả những điều nêu trên đã gần 3 năm trong cơ chế thị trường chỉ mới là những hứa hẹn ban đầu, báo hiệu một thời kỳ phát triển mới của Công ty và cũng là điều tâm đắc ở đâu phát huy tốt truyền thống và biết nhân lên trong bình diện mới sẽ có bước phát triển vững chắc./.
